Page 65 - Giáo Dục Hải Phòng - 60 Năm xây dựng và trưởng thành
P. 65

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG                                                                                    60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1955 - 2015)



                 Từ năm học 1987 -1988 bắt đầu xuất hiện tình trạng giảm sút                               - Các chương trình ngoại ngữ
           về số lượng người học bổ túc văn hóa: Năm học 1966 - 1967 có 27.600                             - Các chương trình dạy nghề và chuyển giao công nghệ
           học viên, năm học 1989 - 1990 có 5.830 học viên, năm học 1992 - 1993
                                                                                                           - Các chương trình đào tạo tại chức bậc trung học, cao đẳng,
           có 1.330 học viên. Việc giảm sút về số lượng người học là nghiêm trọng
                                                                                                      đại học.
           và diễn ra khá nhanh. Nguyên nhân chính là do một số trường phổ
                                                                                                           Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục
           thông trung học dân lập đã thu hút hầu hết số học sinh không được
                                                                                                      và Đào tạo Hải Phòng đã tập trung chỉ đạo thực hiện 4 nhiệm vụ,
           vào học trường công lập. Sau nhiều năm phát triển giáo dục, mặt bằng
                                                                                                      nhằm chuyển dần bổ túc văn hóa thành giáo dục thường xuyên.
           trình độ học vấn của các đối tượng người dân thành phố được nâng
           lên và các đối tượng học bổ túc văn hóa ngày càng giảm. Do vậy, mạng                            - Quy hoạch, sắp xếp lại các trường bổ túc văn hóa toàn thành
           lưới các trường bổ túc văn hóa phải thu hẹp lại.                                           phố để từng bước xây dựng và chuyển đổi dần thành trung tâm giáo
                                                                                                      dục thường xuyên.
                 Tháng 8-1990, hội nghị Giáo dục toàn cầu, gồm các nguyên thủ
           quốc gia họp tại Băng Cốc (Thái Lan), đã nhìn nhận, đánh giá tình                               - Đa dạng hoá nội dung và các hình thức tổ chức học tập để
           hình giáo dục toàn cầu, trong đó đặc biệt chú ý tới nạn mù chữ và                          đáp ứng yêu cầu khác nhau của các loại đối tượng.
           đề ra mục tiêu thực hiện “Giáo dục cho mọi người” và “Giáo dục suốt                             - Đầu tư thêm đồng thời tăng cường xã hội hoá việc xây dựng
           đời” để xây dựng “xã hội học tập”. Để thực hiện các mục tiêu này,                          cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường. Thực hiện liên kết với
           hội nghị khuyến nghị các nước đang phát triển cần quan tâm tới                             các cơ sở đào tạo để đa dạng hoá nội dung giáo dục.
           giáo dục thường xuyên (Continuing education) nhằm thường xuyên
           tạo ra cơ hội học tập đa dạng cho mọi người.

                 Từ thực trạng ngành giáo dục bổ túc văn hóa nước ta và thực
           hiện đường lối đổi mới mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra,

           năm học 1991-1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định chủ trương
           đổi mới ngành bổ túc văn hóa, chuyển đổi thành giáo dục thường
           xuyên, với đơn vị cơ sở là Trung tâm Giáo dục thường xuyên. Căn cứ
           vào yêu cầu nâng cao trình độ nhiều mặt của các loại đối tượng trong
           nhân dân đồng thời tham khảo khuyến nghị của UNESC về nội
           dung giáo dục thường xuyên, Bộ xác định nội dung của giáo dục
           thường xuyên Việt Nam trong những năm trước mắt là:

                 - Các chương trình xoá mù chữ, sau xoá mù chữ và học theo
           chuyên đề cho người lao động

                 - Các chương trình tương đương với các chương trình của giáo
           dục phổ thông                                                                                                    Bổ túc Dân chính, tháng 5-1986


           122                                                                                                                                                          123
   60   61   62   63   64   65   66   67   68   69   70