Page 51 - Giáo Dục Hải Phòng - 60 Năm xây dựng và trưởng thành
P. 51
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG 60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1955 - 2015)
Để đáp ứng nhu cầu học tập của đông đảo nhân dân toàn thành
phố, tính đến năm 1996, ngành Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng có
một đội ngũ giáo viên trên 2 vạn người, 470 trường học, trong đó tiểu
học 216 trường, trung học cơ sở 199 trường và trung học phổ thông
55 trường. Quy mô giáo dục phổ thông tiếp tục ổn định và phát triển:
Số học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông tăng 27.000 em
(trung học phổ thông, năm học 1994-1995 là 24.497 học sinh, bằng
32,6% dân số độ tuổi từ 15-17 tuổi. Năm học 2000-2001 là 59.548
học sinh, bằng 51,53% dân số độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi) nhưng số
học sinh tiểu học giảm 20.000 em (năm học 1996-1997 có 193.783
học sinh, năm học 2000-2001 có 173.879 học sinh), do Hải Phòng
làm tốt công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Tổng Bí thư Đỗ Mười về thăm Trường THCS Vĩnh Niệm, năm 1997
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã định hướng cho phát triển “Cùng
với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi
trọng cả ba mặt: mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy
hiệu quả". "Xây dựng hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm,
trung tâm chất lượng cao ở các bậc học. Coi trọng việc dạy ngoại ngữ
và tin học từ cấp phổ thông. Mở thêm các trường phổ thông nội trú ở
những vùng khó khăn, vùng đồng bào thiểu số. Coi trọng giáo dục Như vậy, tổng số học sinh phổ thông ổn định hằng năm học từ
gia đình”. “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và 36 vạn đến 37 vạn em. Cơ sở vật chất được tăng cường, 98,7% số xã
cán bộ quản lý giáo dục. Sử dụng giáo viên đúng năng lực, đãi ngộ có trường kiên cố cao tầng, nhiều xã có từ 2 đến 4 trường cao tầng;
đúng công sức và tài năng với tinh thần ưu đãi và tôn vinh nghề dạy 50 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ cán bộ, giáo viên
học”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, giáo dục phổ thông Hải ngày càng được bổ sung đông đủ, nâng cao về trình độ đạt chuẩn và
Phòng về cơ bản đã ổn định và có bước phát triển cả về chất lượng và trên chuẩn. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, phong trào
số lượng (ở trung học cơ sở và trung học phổ thông). khuyến học, khuyến tài phát triển rộng khắp.
94 95

