Page 46 - Giáo Dục Hải Phòng - 60 Năm xây dựng và trưởng thành
P. 46
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG 60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1955 - 2015)
luôn luôn tự điều chỉnh, đổi mới tổ chức và mô hình, phương thức Tính đến năm 1985, Hải Phòng có 2 trường đại học, 1 phân
quản lý, để đáp ứng yêu cầu đào tạo. Cũng trong năm 1978, trường hiệu đại học, 1 trường cao đẳng, 2 trường tương đương cao đẳng, 8
Sư phạm cấp I chuyển thành trường Sư phạm 10+2. trường trung học chuyên nghiệp, 16 trường dạy nghề. Năm 1985, số
Những năm 1975 - 1985, cùng với việc đào tạo hệ chính qui sinh viên đại học là 5.050, số học sinh trung học chuyên nghiệp là
giáo viên cấp I và cấp II, các trường sư phạm chuyển trọng tâm sang 4.323 và số học sinh các trường dạy nghề là 4.725.
nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đương chức để tiêu Trong 10 năm (1975-1985), trong điều kiện đất nước lâm vào
chuẩn hóa, nâng cấp đạt chuẩn đào tạo theo yêu cầu của Bộ Giáo tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng; các thế lực thù
dục: Giáo viên cấp I phải có trình độ 10+2, giáo viên cấp II phải có địch bao vây, cấm vận, gây chiến tranh biên giới; cơ chế quản lý tập
trình độ cao đẳng sư phạm, giáo viên cấp III phải có trình độ đại học trung quan liêu, bao cấp kéo dài không còn phù hợp; nền kinh tế suy
sư phạm hệ 4 năm. thoái; đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, đã tác động
tiêu cực đến sự phát triển giáo dục - đào tạo. Mặc dù có một số năm
Tham gia việc tiêu chuẩn hóa trình độ giáo viên và góp phần
trong thời kỳ này giảm sút về số lượng và chất lượng, tuy nhiên Giáo
đào tạo giáo viên, còn có Trạm Đào tạo và Bồi dưỡng giáo viên được
dục - Đào tạo Hải Phòng vẫn vượt qua, khắc phục mọi khó khăn, thử
Ủy ban nhân dân thành phố quyết định thành lập năm 1976. Trạm
thách, tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: Thực hiện
đã liên kết với trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đào tạo hai khóa
thành công công cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 (1979), thiết lập hệ
giáo viên chính trị (200 giáo viên cấp II được tuyển đào tạo), góp
thống giáo dục phổ thông 12 năm ổn định và phát triển. Đẩy mạnh
phần cung cấp đủ giáo viên dạy môn chính trị ở các trường cấp III
việc thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng "Học đi đôi với hành, giáo
và chuyên nghiệp ở địa phương. Trạm còn liên kết với trường Đại
dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội" trong
học Tổng hợp Hà Nội đào tạo nhiều cán bộ, giáo viên có trình độ đại
các trường phổ thông và chuyên nghiệp, đồng thời xây dựng hệ thống
học, cung cấp cho ngành Giáo dục và một số ngành của thành phố. các trường phổ thông trung học vừa học, vừa làm. Ngành Bổ túc văn
Ngày 27-10-1976, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số hóa đã xây dựng hệ thống các trường tập trung trên phạm vi toàn
426/TTg nâng trường Hàng hải Việt Nam lên thành trường Đại học thành phố với nhiều hình thức học tập, tạo mọi điều kiện học tập nâng
Hàng hải. Tháng 3-1984, Bộ Giao thông vận tải có Quyết định số cao trình độ văn hóa cho cán bộ chủ chốt, thanh thiếu niên và nhân
419/TCCB nhập trường Đại học Giao thông đường thủy vào trường dân lao động. Giáo dục nhà trẻ, mẫu giáo tiếp tục được duy trì, ổn
Đại học Hàng hải thành trường Đại học Hàng hải (nay là trường Đại định, phát triển về qui mô và chất lượng giáo dục tiến triển tốt. Giáo
học Hàng hải Việt Nam). dục Chuyên nghiệp tiếp tục phát triển về qui mô, bước đầu đáp ứng
nhu cầu đào tạo nhân lực cho thành phố, với hệ thống các trường
Về giáo dục đại học, ngoài việc thành lập trường Cao đẳng Sư
nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng. Đặc biệt đã thành lập 2
phạm, trường Đại học Hàng hải, thời kỳ này, phân hiệu Đại học Y
trường đại học và 1 phân hiệu đại học. Phong trào thi đua “Hai tốt”
khoa (thuộc Đại học Y khoa Hà Nội) cũng được thành lập tại Hải
đã xây dựng được một mạng lưới tiên tiến của các ngành học, với
Phòng. Năm 1981, thành phố quyết định sáp nhập trường Cán bộ những điển hình xuất sắc. Những thành tựu đó đã tạo ra triển vọng
quản lý giáo dục với Trạm Đào tạo và Bồi dưỡng giáo viên thành cho sự phát triển Giáo dục - Đào tạo Hải Phòng trong thời kỳ thực
trường Cán bộ quản lý giáo dục và Bồi dưỡng giáo viên. hiện công cuộc đổi mới.
88 89

