Page 50 - Giáo Dục Hải Phòng - 60 Năm xây dựng và trưởng thành
P. 50
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG 60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1955 - 2015)
và khoa học công nghệ. Tháng 3-1997, hội nghị Ban Chấp hành
Đảng bộ thành phố lần thứ 4 (khóa XI) quán triệt tư tưởng chỉ đạo
của Trung ương Đảng coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự
nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Phát triển
giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Thực
hiện công bằng trong giáo dục - đào tạo. Giữ vững vai trò nòng cốt
của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục,
đào tạo. Hội nghị cũng bàn sâu về các giải pháp nâng cao chất lượng
giáo dục - đào tạo, phấn đấu phổ cập trung học và nghề, tăng cường
cơ sở vật chất cho các trường học.
Triển khai thực hiện đổi mới giáo dục - đào tạo, Hải Phòng tập
trung đổi mới về bộ máy quản lý. Thời kỳ này, thành phố có 3 cơ
quan quản lý giáo dục: Sở Giáo dục, Ban Giáo dục chuyên nghiệp,
Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ - Trẻ em. Năm 1987, Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ -
Trẻ em sáp nhập vào Sở Giáo dục. Sở Giáo dục thành lập Phòng
Mầm non (có nhiệm vụ quản lý nhà trẻ, mẫu giáo). Năm 1991, Ban Trường THPT Tô Hiệu , năm?????
Giáo dục chuyên nghiệp sáp nhập vào Sở Giáo dục thành Sở Giáo
dục và Đào tạo. Phòng Giáo dục chuyên nghiệp được thành lập. Sở học bị xuống cấp, thiếu đồ dùng và thiết bị dạy học, thiếu phòng học,
Giáo dục và Đào tạo có nhiệm vụ quản lý Nhà nước toàn bộ sự phòng chức năng, tình trạng học 3 ca xẩy ra ở nhiều trường. Chương
nghiệp giáo dục - đào tạo trên địa bàn thành phố. trình học nặng về lý thuyết, coi nhẹ thực hành, thực nghiệm. Chất
lượng giáo dục toàn diện chưa có chuyển biến đáng kể.
Trong 15 năm thực hiện đổi mới, giáo dục và đào tạo Hải Phòng
đã có những bước phát triển, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Giáo dục Hải Phòng, những năm 1986 - 1990 giảm sút, nhưng
từ năm 1992 trở đi tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực.
1. Giáo dục phổ thông Chất lượng giáo dục phổ thông dần dần được nâng lên, tuy còn thấp
Những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, ngành Giáo dục so với yêu cầu. Năm học 1986-1987, số học sinh giảm so với trước
Hải Phòng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ. (trừ cấp III), đến năm học 1991-1992, sự giảm sút dừng lại và sau
Hậu quả của cải cách giá - lương - tiền (9-1985), dẫn đến tình trạng đó, từ năm học 1992-1993, bắt đầu tăng trở lại, nhất là cấp II và cấp
lạm phát, trượt giá nhanh, đời sống nhân dân nói chung và giáo viên III. Bằng sự nỗ lực vượt bậc trong việc duy trì số lượng học sinh tiểu
nói riêng rất khó khăn, lương và các chế độ chính sách đối với nhà học, tích cực huy động trẻ ra lớp, từ 163.042 học sinh tiểu học năm
giáo chậm được chi trả. Tuy ngành Giáo dục cố gắng duy trì số lượng học 1986-1987 đã tăng lên 193.042 năm học 1991-1992. Năm 1991,
nhưng số học sinh các bậc học có hiện tượng giảm sút. Tỷ lệ học sinh Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận Hải Phòng đạt phổ cập giáo dục
lưu ban, bỏ học cao, đặc biệt ở khối cấp II. Cơ sở vật chất nhiều trường tiểu học (đi trước toàn quốc 10 năm).
92 93

