Page 38 - Giáo Dục Hải Phòng - 60 Năm xây dựng và trưởng thành
P. 38

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI PHÒNG                                                                                    60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1955 - 2015)



           của đất nước, cử hàng trăm học sinh xuất sắc trong các kỳ thi đại
           học sang Liên Xô để đào tạo về ngành giáo dục mầm non. Các sinh
           viên này sau khi tốt nghiệp về nước được cử làm việc ở một số trường
           đại học, các cơ quan quản lý giáo dục ở Trung ương và địa phương.
           Những sinh viên đó sau này trở thành những cán bộ lãnh đạo quản
           lý ngành học có chuyên môn và là những cốt cán đầu tiên xây dựng
           các chương trình nuôi dạy trẻ theo khoa học hiện đại của Việt Nam
           cũng như Hải Phòng.

                 Sau chiến tranh, dù tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó
           khăn nhưng thành phố và các cấp, các ngành, đoàn thể đã có nhiều
           cố gắng trong thực hiện các chủ trương giáo dục của Trung ương,

           làm cho sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới. Số trẻ trong độ
           tuổi được huy động đến nhà trẻ, trường mẫu giáo tăng khá cao: Năm
           1974 là 29.439 cháu đến năm 1979 là 58.000 cháu. Số trẻ mẫu giáo
           năm học 1975 - 1976 là 16.045 cháu, đến năm học 1980 - 1981 tăng
           lên 59.987 cháu. Đây là thời kỳ nhà trẻ, mẫu giáo phát triển mạnh
                                                                                                                           Các cháu mẫu giáo ở thị trấn Cát Bà
           nhất cả về số lượng và tỉ lệ trẻ đến trường so với trẻ trong độ tuổi                                              năm đầu được huy động ra lớp
           (cao nhất trong 40 năm xây dựng nền giáo dục từ 1955 đến 1995).

                 Từ năm 1979, thực hiện cải cách giáo dục, với mục tiêu giáo                          đi nhà trẻ, mẫu giáo. Để thực hiện chỉ tiêu này, ở nội thành, thành
           dục là chăm sóc cho thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho đến lúc                             phố ưu tiên dành một số nhà ở mặt đường (nhất là sau khi người
           trưởng thành. Chất lượng giáo dục nhà trẻ, mẫu giáo ở Hải Phòng                            Hoa về nước) để mở các nhà trẻ và lớp mẫu giáo. Ở khu vực nông
           tăng rõ rệt. Đội ngũ cô nuôi dạy trẻ, giáo viên mẫu giáo được đào                          thôn, thành phố công trợ kinh phí cho các xã xây dựng nhà trẻ,
           tạo, bồi dưỡng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Cơ sở vật chất                            trường mẫu giáo. Nhờ vậy, mỗi huyện có 1 trường kiên cố, nhiều

           của các nhà trẻ, trường mẫu giáo được đầu tư hơn, hợp tác xã, cơ                           xã đã xây dựng được trường mẫu giáo 1 tầng nhưng chắc chắn,
           quan, xí nghiệp hỗ trợ một phần chi phí cho việc nuôi các cháu tại                         thoáng mát, có sân chơi, bồn hoa, cây cảnh. Tiêu biểu là các trường
           trường. Nhà nước hỗ trợ mua đồ dùng phục vụ sinh hoạt cho nhà                              mẫu giáo Minh Tân (Thủy Nguyên), Hữu Bằng (Kiến Thụy), Tam
           trẻ, mẫu giáo với giá thấp. Các tổ chức quốc tế viện trợ để xây dựng                       Cường (Vĩnh Bảo). Trường mẫu giáo Phục Lễ (Thủy Nguyên) được
           các nhà trẻ mẫu, kiên cố, như nhà trẻ 1/6, nhà trẻ An Dương (quận                          Bộ Giáo dục biểu dương là điển hình xuất sắc toàn quốc... Trong
           Lê Chân), nhà trẻ 8/3, nhà trẻ Vạn Mỹ (quận Ngô Quyền)... Sự                               thời kỳ khó khăn này, thành phố có chủ trương tuyển dụng hiệu
           quyết tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền thành phố và địa                                trưởng và đưa giáo viên dạy cấp 1 (Tiểu học) làm chuyên trách
           phương là một trong những nhân tố cho sự phát triển ngành học                              trường mẫu giáo ở khu vực nông thôn, đã giúp cho ngành học mẫu
           này. Năm 1978, thành phố chỉ đạo đưa 70% các cháu trong độ tuổi                            giáo được ổn định và phát triển. Thời kỳ này, đội ngũ giáo viên


           72                                                                                                                                                             73
   33   34   35   36   37   38   39   40   41   42   43