Quán triệt, thực hiện nghiêm các quy định về công tác phòng chống bạo hành trẻ em, bảo đảm an toàn trường học; xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích. Chú trọng công tác tự kiểm tra, đánh giá tiêu chuẩn về an toàn nhằm phát hiện sớm và có biện pháp khắc phục kịp thời các yếu tố nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ em, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các biện pháp, kỹ năng phòng, chống tai nạn, thương tích đối với trẻ em; giáo dục kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và bảo đảm an toàn cho trẻ em trong cơ sở GDMN.
Tăng cường bồi dưỡng, sinh hoạt chuyên môn, tổ chức hiệu quả các chuyên đề cấp tổ, cấp trường, cụm trường và cấp thành phố, tập trung vào các nội dung: phát triển chương trình giáo dục nhà trường phù hợp với đặc điểm địa phương, nhu cầu và sự phát triển của trẻ; đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, học thông qua chơi, trải nghiệm; xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục và phối hợp với cha mẹ trẻ; đổi mới quản trị nhà trường, giảm thủ tục, hồ sơ, sổ sách hành chính không cần thiết, tăng thời gian và nguồn lực cho hoạt động chuyên môn…
2. Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục
Tổ chức hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, tăng cường các phương pháp giáo dục thông qua chơi, thực hành, trải nghiệm, phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ.
Khuyến khích giáo viên nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục tiên tiến phù hợp.
Triển khai các mô hình giáo dục tiên tiến, hợp tác, đầu tư nước ngoài và liên kết giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế của các cơ sở GDMN.
3. Thực hiện theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ thông qua quan sát; sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Tránh hình thức trong việc đánh giá trẻ, tập trung vào tính thực chất. Tăng cường bồi dưỡng, sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên về kỹ năng đánh giá sự phát triển của trẻ.
4. Đối với các cơ sở thực hiện thí điểm Chương trình GDMN mới
Các cơ sở GDMN được lựa chọn thí điểm Chương trình GDMN mới triển khai thực hiện theo quy định và hướng dẫn của Bộ GDĐT, kế hoạch của UBND thành phố, đảm bảo đầy đủ nội dung, quy trình và hoàn thành đúng thời gian các nhiệm vụ đối với từng giai đoạn thí điểm; ghi nhận khó khăn, thu thập phản hồi kết quả thực hiện để đề xuất hoàn thiện chương trình; không phát sinh hồ sơ ngoài quy định.
Sở GDĐT chủ trì hướng dẫn chuyên môn, xây dựng mạng lưới hỗ trợ, tư vấn, theo dõi, đánh giá quá trình chuẩn bị và triển khai; hướng dẫn cơ sở GDMN khai thác dữ liệu, học liệu, tổ chức sinh hoạt chuyên môn, kịp thời tháo gỡ khó khăn và điều chỉnh giải pháp phù hợp với thực tiễn.
UBND cấp xã phối hợp bảo đảm các điều kiện về nguồn lực, cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và các điều kiện cần thiết để cơ sở GDMN triển khai thí điểm hiệu quả.
Cơ sở GDMN chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai Chương trình GDMN thí điểm phù hợp với điều kiện thực tế và mô hình tổ chức khi thực hiện sắp xếp; rà soát, tham mưu bảo đảm các điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị, đồ chơi, học liệu và hạ tầng số; tổ chức quản trị, điều phối thống nhất giữa trường chính, phân hiệu, điểm trường trong quá trình thực hiện; phát huy sự chủ động, tích cực và sáng tạo của đội ngũ.
Cơ sở GDMN thực hiện tự đánh giá, theo dõi kết quả, rút kinh nghiệm, điều chỉnh kế hoạch và giải pháp thực hiện; đánh giá hiệu quả thí điểm dựa trên kết quả phát triển của trẻ, năng lực đội ngũ, chất lượng tổ chức hoạt động giáo dục và khả năng nhân rộng mô hình phù hợp; báo cáo kết quả triển khai theo hướng dẫn của Bộ GDĐT, Sở GDĐT.
5. Xây dựng môi trường giáo dục bảo đảm an toàn, thẩm mỹ và phù hợp với độ tuổi; khai thác và sử dụng đồ dùng, đồ chơi, học liệu hiệu quả
Thiết kế các không gian mở trong và ngoài lớp học, tạo cơ hội cho trẻ chủ động thực hành, trải nghiệm. Ưu tiên không gian, góc hoạt động và sản phẩm của trẻ có giá trị sử dụng trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.
Xây dựng môi trường giáo dục để tạo nhiều cơ hội cho trẻ hoạt động, không phải để trang trí; tránh sử dụng quá nhiều chi tiết, nhiều màu sắc, dán dính các hình ảnh cố định trong môi trường lớp học. Bố trí các góc hoạt động ngang tầm mắt của trẻ, ưu tiên trưng bày sản phẩm do chính trẻ tạo ra thay vì trang trí hình thức của giáo viên.
Rà soát, đầu tư, khai thác sử dụng đồ dùng, đồ chơi, học liệu phù hợp; ưu tiên học liệu, vật liệu và nguồn lực địa phương sẵn có, tận dụng nguyên vật liệu tái chế, vật liệu tự nhiên an toàn để làm học liệu.
Quán triệt không tổ chức các cuộc thi, phong trào làm đồ dùng, đồ chơi không có trong quy định gây gánh nặng, áp lực không cần thiết cho giáo viên.
6. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và tổ chức bán trú cho trẻ
Thực hiện tốt công tác y tế trường học theo quy định; kiểm tra sức khoẻ và đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng biểu đồ tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới; thực hiện tốt các biện pháp theo dõi, chăm sóc sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì cho trẻ em trong các cơ sở GDMN; phối hợp với Y tế tổ chức theo dõi sức khoẻ; khám, điều trị theo các chuyên khoa cho trẻ.
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ GDĐT về công tác chăm sóc sức khỏe và tổ chức bán trú cho trẻ em tại cơ sở GDMN. Kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc thực phẩm sử dụng trong chế biến bữa ăn cho trẻ, quy trình tiếp nhận, chế biến, vận chuyển, tổ chức bữa ăn, kiểm thực và lưu mẫu thức ăn theo quy định. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, theo dõi, công khai và minh bạch công tác nuôi dưỡng.
Xây dựng thực đơn theo mùa đa dạng, phong phú, tăng cường rau xanh, trái cây, sữa và các chế phẩm từ sữa,...; phân bố bữa ăn, định lượng khẩu phần ăn phù hợp với từng độ tuổi, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, thời gian tổ chức ăn, ngủ cho trẻ thực hiện theo lịch sinh hoạt hằng ngày bảo đảm đúng quy định tại Chương trình GDMN.
Thường xuyên phối hợp với Y tế kiểm tra công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trong tổ chức bữa ăn cho trẻ theo quy định. Tăng cường công tác kiểm tra và tham gia giám sát của cha mẹ trẻ em trong việc bảo đảm chất lượng bữa ăn và an toàn thực phẩm. Chấn chỉnh xử lý nghiêm những sai phạm trong công tác tổ chức bữa ăn cho trẻ em tại các cơ sở GDMN.
Đẩy mạnh giáo dục trẻ kĩ năng thực hành vệ sinh cá nhân, tự phục vụ và bảo vệ chăm sóc sức khoẻ; lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khoẻ, phòng, chống tai nạn thương tích trong thực hiện chế độ sinh hoạt hằng ngày phù hợp với điều kiện thực tế. Tăng cường giáo dục dinh dưỡng kết hợp vận động để phát triển thể chất, thể lực cho trẻ em. Bảo đảm hài hòa giữa chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn.
Trong bối cảnh sắp xếp cơ sở GDMN với mô hình trường chính, phân hiệu, điểm trường, cơ sở GDMN thực hiện quản lý thống nhất, phân công, ủy quyền phù hợp; người đứng đầu chịu trách nhiệm điều hành, kiểm tra, giám sát, bảo đảm chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và an toàn cho trẻ tại tất cả các địa điểm tổ chức hoạt động giáo dục.
II. Tăng cường các nội dung giáo dục gắn với yêu cầu đột phá phát triển GDMN, bảo đảm tiếp cận bình đẳng
1. Nâng cao chất lượng GDMN ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp; thực hiện giáo dục hòa nhập đối với trẻ em khuyết tật và trẻ có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định
Triển khai thực hiện định hướng của Chính phủ và thành phố về nâng cao chất lượng GDMN ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn của thành phố trong giai đoạn 2026 - 2030.
Thực hiện hiệu quả quy định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật. Quan tâm đặc biệt đến trẻ khuyết tật, mồ côi, hộ nghèo, vùng khó khăn trong môi trường an toàn, không phân biệt đối xử; tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và cộng đồng; khắc phục khó khăn về hồ sơ, sự phối hợp của phụ huynh và thiếu thiết bị chuyên dụng hỗ trợ trẻ hòa nhập.
Phát huy hiệu quả và tiếp tục thực hiện mô hình hỗ trợ chuyên môn cho GDMN đặc khu Bạch Long Vĩ.
2. Chuẩn bị điều kiện từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học
Triển khai thực hiện định hướng của Chính phủ, Bộ GDĐT và thành phố về việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Tích cực tham mưu đầu tư điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất phù hợp nhu cầu thực tế, từng bước triển khai đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Các cơ sở GDMN nghiêm túc thực hiện các quy định về tổ chức cho trẻ mẫu giáo làm quen với tiếng Anh; đưa tiếng Anh phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ thông qua giao tiếp, vui chơi, trải nghiệm, bảo đảm tự nhiên, nhẹ nhàng, không gây áp lực.
3. Tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển thể chất phù hợp lứa tuổi và tình trạng sức khỏe của trẻ
Cải thiện, tối ưu hóa không gian và khu vực vận động trong lớp, ngoài trời nhằm tạo điều kiện cho trẻ vận động; bổ sung và sắp xếp các đồ dùng, dụng cụ, đồ chơi vận động thuận tiện, phù hợp.
Chú trọng các hình thức vận động ngoài trời và trò chơi vận động phù hợp điều kiện địa phương; khai thác các trò chơi dân gian, trò chơi truyền thống của địa phương khi tổ chức các hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ.
Nhân rộng mô hình “Bữa ăn hợp lý, đảm bảo dinh dưỡng kết hợp tăng cường vận động” trong các cơ sở GDMN.
4. Xây dựng môi trường giáo dục mở, thân thiện; khai thác hợp lý không gian trong lớp, ngoài trời, thiên nhiên, chú trọng khai thác giáo dục giá trị văn hóa và nguồn lực cộng đồng. Tổ chức hoạt động trải nghiệm phải bảo đảm mục tiêu phát triển toàn diện, phù hợp độ tuổi, điều kiện thực tế, an toàn và không gây áp lực đối với trẻ. Giáo viên thiết kế, tổ chức các hoạt động giáo dục gắn với cuộc sống của trẻ em; ứng dụng phương thức giáo dục STEM/STEAM phù hợp, hiệu quả, không tổ chức thành hoạt động giáo dục riêng.
5. Chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật, kỹ năng sống phù hợp với tâm sinh lý trẻ em; xây dựng nền nếp, đẩy mạnh học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy; hình thành ở trẻ em các giá trị nền tảng cốt lõi của con người Việt Nam, yêu thương bản thân, gia đình, thầy cô, bạn bè và giáo dục tình yêu quê hương, đất nước
Tăng cường lồng ghép, tích hợp, phát triển các nội dung giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật, kỹ năng sống trong thực hiện các hoạt động hàng ngày của trẻ.
Đội ngũ các cơ sở GDMN nghiêm túc thực hiện quy định quy tắc ứng xử của nhà giáo; cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên phải luôn là tấm gương về học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy; chuẩn mực trong lời nói, hành vi để làm gương cho trẻ.
Triển khai sử dụng Tài liệu giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa, kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi “Ươm mầm nhân cách trẻ thơ thành phố Hoa Phượng Đỏ” khi được phê duyệt để tích hợp giảng dạy trong các cơ sở GDMN trên địa bàn thành phố.
6. Nghiêm túc triển khai thực hiện các chính sách đối với cơ sở GDMN, đội ngũ và trẻ em theo đúng quy định của Chính phủ và thành phố. Tiếp tục tham mưu các chính sách đặc thù của thành phố đối với GDMN trong giai đoạn tiếp theo: xây dựng Kế hoạch triển khai các giải pháp đáp ứng yêu cầu gửi trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi tại các cơ sở GDMN trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2035; đề xuất cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục trông trẻ từ 6 tháng tuổi, đặc biệt đầu tư xây dựng tại các khu vực gần các khu công nghiệp; xây dựng mô hình “Trường học xã hội chủ nghĩa” tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo, xây dựng hồ sơ và trình Hội đồng nhân dân thay thế một số Nghị quyết về các chính sách đối với GDMN.
III. Thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập cho trẻ em 5 - 6 tuổi
1. Thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi
Tham mưu các cấp bố trí nguồn lực thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi theo quy định.
Huy động và duy trì trẻ đến trường, nâng cao tỷ lệ chuyên cần; ưu tiên trẻ em vùng khó khăn, dân tộc thiểu số, khu công nghiệp, trẻ khuyết tật và trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách phát triển GDMN và chính sách phổ cập GDMN cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi theo quy định.
Phối hợp các cơ quan liên quan rà soát, cập nhật dữ liệu trẻ từ 3 đến 5 tuổi; kiểm tra, công nhận phổ cập dựa trên dữ liệu và kết quả thực tế.
2. Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập cho trẻ em 5 - 6 tuổi
Duy trì vững chắc kết quả phổ cập trẻ 5 - 6 tuổi và thực hiện tốt công tác chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi sẵn sàng vào lớp Một theo yêu cầu phát triển toàn diện; chú trọng phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội, kỹ năng tự phục vụ và khả năng thích ứng với môi trường học tập mới; không dạy trước chương trình lớp Một, không gây áp lực học tập đối với trẻ; tăng cường phối hợp giữa cơ sở GDMN và cơ sở giáo dục phổ thông trong hoạt động chuyển tiếp, bảo đảm tính liên thông, phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ.
IV. Bảo đảm đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng, đồ chơi; bảo đảm chất lượng giáo dục và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; sắp xếp mạng lưới trường, lớp, điểm trường phù hợp, ổn định
1. Bảo đảm số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân sự hỗ trợ giáo dục
Rà soát, tham mưu và tổ chức thực hiện các quy định về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở GDMN công lập theo quy định.
Gắn phương án tuyển dụng, tiếp nhận, hợp đồng, bố trí, điều động, biệt phái và sử dụng đội ngũ với sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục, yêu cầu thực hiện Chương trình GDMN và chế độ làm việc của giáo viên theo quy định; ưu tiên khắc phục tình trạng thiếu giáo viên mầm non ở các địa bàn khó khăn.
Nghiêm túc thực hiện quy định về công tác bồi dưỡng thường xuyên và đánh giá chuẩn nghề nghiệp đối với đội ngũ GDMN.
Tăng cường bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và nhân sự hỗ trợ giáo dục theo yêu cầu vị trí việc làm, quy định của ngành và Chương trình GDMN; chú trọng bồi dưỡng năng lực về đổi mới phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ; giáo dục hòa nhập; chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực quản trị nhà trường.
Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên cốt cán, cán bộ quản lý cốt cán trong hỗ trợ chuyên môn; tổ chức sinh hoạt chuyên môn trong cơ sở giáo dục và theo cụm trường bảo đảm thiết thực, bám sát Chương trình GDMN, nhiệm vụ năm học và nhu cầu phát triển nghề nghiệp của đội ngũ; tránh hình thức, không làm phát sinh cấp quản lý trung gian và thủ tục hành chính.
Chú trọng công tác kiểm tra, tự kiểm tra nội bộ tại các cơ sở GDMN.
Tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi các cấp theo quy định, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tránh gây áp lực cho đội ngũ. Tổ chức Hội thi giáo viên mầm non dạy giỏi cấp thành phố đối với giáo viên dạy Chương trình GDMN 3 tuổi.
2. Bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ chơi và học liệu
Rà soát, đầu tư, nâng cấp, bổ sung đồng bộ cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi và học liệu tối thiểu đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình GDMN. Ưu tiên nguồn lực, lồng ghép hiệu quả các chương trình, đề án đầu tư phòng học, phòng chức năng, công trình vệ sinh, nước sạch, sân chơi và điều kiện tổ chức bán trú. Quan tâm tới các cơ sở GDMN khu công nghiệp, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm bảo đảm điều kiện phổ cập GDMN cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi, thực hiện thí điểm Chương trình GDM mới, không để xảy ra trùng lặp, dàn trải.
Quản lý, khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị hiện có; phát huy tính chủ động, linh hoạt trong tổ chức hoạt động vui chơi, thực hành, trải nghiệm cho trẻ. Có giải pháp hỗ trợ học liệu, đồ dùng miễn phí cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không để trẻ bị thiệt thòi do thiếu điều kiện học tập.
Thực hiện việc lựa chọn đồ chơi, học liệu được sử dụng trong cơ sở GDMN đúng quy định.
Huy động các nguồn lực đầu tư đồ dùng, thiết bị, đồ chơi theo hướng đảm bảo mức tối thiểu theo quy định của Bộ GDĐT và của thành phố và từng bước bổ sung theo hướng hiện đại.
3. Bảo đảm chất lượng giáo dục và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia
Thực hiện bảo đảm chất lượng giáo dục và công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia theo quy định; sử dụng kết quả đánh giá để cải tiến chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
Cơ sở GDMN tự đánh giá đúng thực trạng, xây dựng và thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng khả thi, bảo đảm sự đồng đều giữa trường chính, phân hiệu, điểm trường.
Đối với trường mầm non đã đạt chuẩn quốc gia, cần thường xuyên rà soát, xây dựng lộ trình để củng cố, duy trì và nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
4. Sắp xếp mạng lưới trường, lớp GDMN phù hợp, ổn định
Rà soát, sắp xếp mạng lưới trường, lớp, phân hiệu, điểm trường mầm non theo quy định, phù hợp với quy hoạch, phân bố dân cư, điều kiện đi lại, yêu cầu phổ cập GDMN và bảo đảm chất lượng theo đúng quy định tại Điều lệ trường mầm non.
Bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị, vệ sinh, nước sạch, an toàn và hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, đặc biệt là sau khi thực hiện sắp xếp các cơ sở GDMN.
V. Đổi mới quản lý GDMN, quản trị nhà trường và đẩy mạnh chuyển đổi số; cải cách hành chính; đổi mới kiểm tra, giám sát
1. Cải cách hành chính: Cắt giảm triệt để hồ sơ, sổ sách, báo cáo trùng lặp, hình thức; từ học kỳ I năm học 2026 - 2027 tuyệt đối không phát sinh hồ sơ ngoài quy định của Bộ GDĐT.
2. Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ triển khai mô hình tổ chức khi thực hiện sắp xếp; kiện toàn bộ máy, đội ngũ và điều kiện cơ sở vật chất, tài chính; đổi mới quản lý theo hướng tăng cường hỗ trợ chuyên môn, chuyển đổi số và đánh giá kết quả thực hiện.
3. Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo
Chuyển từ quản lý chủ yếu bằng hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu; đảm bảo trường dữ liệu về trẻ em, phổ cập GDMN, đội ngũ, cơ sở vật chất, tình trạng dinh dưỡng của trẻ bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống” để nhận diện vấn đề, dự báo rủi ro và điều chỉnh hoạt động.
Thiết lập và chuyên nghiệp hóa hoạt động của trang website, fanpage, facebook, zalo để thực hiện công tác truyền thông.
Huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng công nghệ, trang bị thiết bị máy tính kết nối Internet và các thiết bị tương tác hiện đại.
Bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân của trẻ và gia đình; ứng dụng công nghệ theo nguyên tắc "một lần cập nhật dữ liệu, nhiều lần khai thác"; quản trị dựa trên dữ liệu và điều hành trên môi trường số để giảm tối đa hội họp trực tiếp.
Thực hiện đánh giá mức độ chuyển đổi số cơ sở GDMN theo quy định.
Nâng cao năng lực số của đội ngũ phù hợp với Khung năng lực số của Bộ GDĐT và tình hình thực tiễn của đơn vị.
4. Kiểm tra, giám sát, tiếp nhận và xử lý phản ánh
Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ GDMN; đổi mới công tác kiểm tra theo hướng hỗ trợ, tư vấn, đồng hành cùng cơ sở GDMN và đội ngũ. Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích trong đánh giá, bảo đảm thực chất, hiệu quả; cắt giảm triệt để các cuộc thi và yêu cầu hồ sơ, báo cáo hành chính không cần thiết nhằm giảm áp lực cho đội ngũ. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trường học, đánh giá dựa trên dữ liệu, minh chứng và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Kịp thời tiếp nhận, xử lý và phản hồi các phản ánh, kiến nghị về hoạt động GDMN; xác định rõ trách nhiệm và thời hạn giải quyết. Chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về nhiệm vụ năm học, kết quả đổi mới GDMN và chính sách đối với trẻ, giáo viên, cơ sở giáo dục, tạo đồng thuận trong tổ chức thực hiện.
UBND cấp xã thực hiện kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền đối với các cơ sở GDMN thuộc phạm vi quản lý; thường xuyên nắm tình hình vận hành khi thực hiện sắp xếp cơ sở GDMN, việc bố trí đội ngũ, cơ sở vật chất, kinh phí và các điều kiện bảo đảm nuôi dưỡng, chăm sóc, an toàn cho trẻ. Kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương và xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định.
Các cơ sở GDMN thực hiện tự kiểm tra, tự đánh giá thường xuyên, thực chất; tập trung rà soát công tác quản trị, thực hiện Chương trình GDMN, chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và bảo đảm an toàn trường học. Chủ động sử dụng kết quả đánh giá để cải tiến chất lượng, phát huy quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, nói không với bệnh thành tích.
Công tác kiểm tra, giám sát và tự đánh giá được thực hiện xuyên suốt, bảo đảm thực chất, hiệu quả; lấy chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ, mức độ an toàn và hiệu quả quản trị nhà trường làm thước đo đánh giá.
VI. Phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội
1. Tăng cường phối hợp thực chất giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và bảo đảm an toàn, quyền của trẻ; xác định rõ nội dung, đầu mối và trách nhiệm phối hợp; ưu tiên trao đổi thông tin thiết thực về sức khỏe, sự phát triển và an toàn của trẻ.
2. Gia đình, cộng đồng có trách nhiệm phối hợp với cơ sở GDMN bảo đảm điều kiện để thực hiện chế độ sinh hoạt cho trẻ và chế độ làm việc đối với giáo viên, nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN; phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục theo kế hoạch giáo dục của nhà trường của cơ sở GDMN, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục.
3. Phối hợp sử dụng các nguồn lực xã hội hóa để tổ chức hoạt động giáo dục bảo đảm đúng mục đích, chất lượng, hiệu quả theo quy định của pháp luật.
C. MỘT SỐ CHỈ TIÊU CƠ BẢN